1000 - Document to Flipbook
Published on Nov 01, 2026
Description:
2
HỘI SINH VIÊN VIỆT NAM
BCH TP. HỒ CHÍ MINH
*** TP. Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 04 năm 2026
BÁO CÁO THUYẾT MINH
ĐỀ NGHỊ XÉT MÔ HÌNH, GIẢI PHÁP TIÊU BIỂU
Tác giả: Hội Sinh viên Việt Nam Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TP. Hồ Chí
Minh
Đơn vị: Hội Sinh viên Việt Nam Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TP. Hồ Chí
Minh
Tài liệu này được xây dựng theo cấu trúc thuyết minh mô hình, giải pháp tiêu
biểu; đồng thời hệ thống hóa một mô hình nổi bật được rút ra từ toàn bộ dự án
Hừng Đông Đất Việt trong năm học 2025 - 2026. Bản thuyết minh được phát triển
theo hướng đầy đủ hơn, làm rõ cả cơ sở hình thành, quy trình tổ chức, cách thức
triển khai, kết quả định lượng và ý nghĩa phương pháp, bảo đảm người đọc không
cần theo dõi toàn bộ tiến trình dự án trước đó vẫn có thể nhận diện rõ tính đặc
thù, chiều sâu giáo dục và khả năng nhân rộng của mô hình. 1. Tên gọi của mô hình:
Hệ sinh thái giải pháp giáo dục lịch sử - văn hóa dành cho sinh viên thông
qua dự án “Hừng Đông Đất Việt”. 2. Nội dung:
* Mục đích thực hiện:
Mô hình được hình thành nhằm chuyển một chuỗi hoạt động văn hóa - lịch
sử từ dạng các chương trình ngắn hạn thành một cấu trúc giáo dục có chủ đích, trong đó sinh viên được dẫn dắt đi qua nhiều lớp tiếp cận khác nhau như ký ức
lịch sử, cảm thụ văn hóa, trải nghiệm di sản, thực hành sáng tạo, học thuật, bản
lĩnh công dân và tinh thần hội nhập. Điểm cốt lõi của mô hình không nằm ở số
lượng hoạt động đơn lẻ, mà ở cách thiết kế một tiến trình học hỏi có độ mở, có
chiều sâu và có khả năng chạm tới nhiều nhóm sinh viên với sở thích, nền tảng và
động lực tham gia khác nhau. Khác với cách tổ chức sự kiện theo hướng một điểm rơi truyền thông hoặc
một mục tiêu phong trào riêng lẻ, mô hình này đặt ra yêu cầu mỗi hoạt động
thành phần phải đồng thời thực hiện hai chức năng: vừa tạo giá trị độc lập ở thời
điểm diễn ra, vừa chuẩn bị nhận thức cho chặng tiếp theo của toàn dự án. Chính3
nhờ cơ chế liên hoàn này, người tham gia không chỉ đến để dự một chương trình
cụ thể, mà dần được đặt vào một hành trình giáo dục liên tục, nơi cảm xúc, tri
thức và hành động có điều kiện nối tiếp, bồi đắp và củng cố lẫn nhau. Mục tiêu thứ hai của mô hình là mở rộng cách người trẻ tiếp cận lịch sử và
văn hóa Việt Nam bằng ngôn ngữ gần với đời sống hiện nay. Lịch sử không chỉ
được tiếp nhận qua dữ kiện, niên biểu hay khái niệm trừu tượng; văn hóa cũng
không bị giản lược thành một lớp mỹ thuật minh họa. Thay vào đó, toàn bộ chất
liệu lịch sử - văn hóa được chuyển hóa thành những hình thức mà sinh viên có thể
thực sự bước vào như kể chuyện bằng âm thanh, sân chơi kiến thức, trò chơi
tương tác số, không gian triển lãm, trải nghiệm bảo tàng, biểu đạt nghệ thuật, chế
tác thủ công, đối thoại học thuật và thảo luận về trách nhiệm công dân. Mục tiêu thứ ba là khẳng định vai trò chủ thể của sinh viên trong công tác
giáo dục truyền thống. Sinh viên không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là lực
lượng trực tiếp tham gia xây dựng nội dung, dẫn dắt truyền thông, vận hành
không gian, sản xuất sản phẩm sáng tạo, làm việc với khách mời, kết nối cộng
đồng người tham gia và góp phần lưu giữ kết quả của toàn dự án. Cách tiếp cận
này vừa giúp sinh viên trưởng thành qua quá trình thực hành vừa giúp dự án
nâng cao chất lượng, bởi sức sống của mô hình đến từ chính sự hiện diện và đồng
kiến tạo của sinh viên theo nhiều chiều. Mục tiêu thứ tư của mô hình là thiết lập một phương thức giáo dục truyền
thống vừa giàu bản sắc, vừa thích hợp với bối cảnh đại học hiện nay. Trong môi
trường mà sinh viên chịu tác động bởi nhịp sống nhanh, lượng thông tin lớn và
nhiều lựa chọn giải trí cạnh tranh, việc truyền tải các giá trị lịch sử - văn hóa đòi
hỏi một cấu trúc đủ linh hoạt để tiếp cận, đủ hấp dẫn để giữ chân, nhưng đồng
thời đủ nghiêm túc để bồi dưỡng chiều sâu nhận thức. Mô hình được xây dựng để
đáp ứng đồng thời cả ba yêu cầu đó. Mục tiêu thứ năm là thông qua dự án để góp phần củng cố hình ảnh của tổ
chức Hội Sinh viên như một chủ thể có năng lực kiến tạo không gian giáo dục mới
cho người học. Ở đây, tổ chức Hội không chỉ đóng vai trò hậu cần hay phát động
phong trào, mà trực tiếp tham gia định hình phương pháp, kết nối nguồn lực, điều
phối tiến độ, tổ chức truyền thông và bảo đảm tính nhất quán của toàn bộ hành
trình. Chính sự hiện diện xuyên suốt này làm tăng tính tổ chức, tính kỷ luật và sức
thuyết phục của mô hình. 3. Thời gian bắt đầu thực hiện: Từ tháng 8/2025 đến tháng 12/2025. 4. Tổ chức thực hiện:
4.1. Quy trình thực hiện:4
Quy trình triển khai mô hình được chia thành 04 giai đoạn liên hoàn. Giai
đoạn 1 tập trung khơi mở ký ức lịch sử, lòng biết ơn và ý thức về giá trị của hòa
bình; giai đoạn 2 chuyển trọng tâm sang trải nghiệm di sản và cảm thụ văn hóa;
giai đoạn 3 mở rộng sang học thuật, bản lĩnh công dân và năng lực hội nhập; giai
đoạn 4 thực hiện chức năng tổng kết, trưng bày, lưu giữ và lan tỏa. Cấu trúc nhiều
giai đoạn này giúp dự
án không rơi vào tình trạng dồn lực vào một thời điểm ngắn, mà duy trì được nhịp
giáo dục đều đặn, có sự chuyển pha về nội dung và có độ ngân dài về tác động. Trong giai đoạn chuẩn bị, Ban chấp hành Liên Chi hội tiến hành xây dựng
trục nội dung xuyên suốt cho toàn dự án, xác định rõ thông điệp trung tâm, phân
nhóm đối tượng tiếp cận, phân công đầu mối chuyên môn và thiết kế lịch triển
khai theo tuần. Đây là giai đoạn đặc biệt quan trọng vì nó quyết định tính logic của
cả chuỗi hoạt động phía sau. Thay vì xây dựng từng chương trình một cách độc
lập, mô hình yêu cầu mọi khâu chuẩn bị đều phải đặt trong câu hỏi lớn hơn: hoạt
động này giữ vai trò gì trong toàn bộ tiến trình giáo dục, đóng góp gì cho mạch
nhận thức chung và cần liên hệ như thế nào với các hoạt động trước - sau nó. Giai đoạn triển khai được vận hành theo nguyên tắc đồng bộ giữa nội dung, truyền thông và trải nghiệm tại chỗ. Mỗi hoạt động đều có chuỗi nội dung dẫn
nhập trước đó, có cơ chế khuếch tán trong thời gian diễn ra và có lớp tổng hợp
sau hoạt động để duy trì dư âm nhận thức. Nhờ vậy, hiệu quả của chương trình
không chỉ nằm trong thời gian diễn ra trực tiếp mà được kéo dài thành một vòng
đời nội dung đủ dài để sinh viên có thể tiếp cận nhiều lần, ở nhiều điểm chạm
khác nhau. Giai đoạn tăng cường và mở rộng được thực hiện bằng việc triển khai các
hoạt động có mức độ nhập cuộc cao hơn, yêu cầu sinh viên không chỉ xem, nghe
hoặc trả lời, mà còn trực tiếp trình diễn, thi đấu, sáng tạo sản phẩm, tham gia
workshop, đối thoại bằng ngoại ngữ hoặc hiện diện trong không gian triển lãm và
đêm tổng kết. Đây là bước chuyển từ tiếp nhận sang chủ động biểu đạt, giúp mô
hình tạo ra sự phát triển về chất trong trải nghiệm của người tham gia. Giai đoạn tổng kết được tổ chức như một bước khép kín đồng thời là bước
mở. Kết quả được hệ thống hóa bằng báo cáo, số liệu, hình ảnh, tư liệu truyền
thông, sản phẩm dự thi, không gian triển lãm và các hoạt động tổng kết có tính
trình diễn công khai. Nhờ đó, dự án không kết thúc theo kiểu giải tán sau sự kiện, mà để lại một bộ minh chứng có thể tiếp tục phục vụ công tác đánh giá, truyền
thông, học tập kinh nghiệm và phát triển thành các mùa sau. 4.2. Nội dung công tác triển khai:5
Nhóm nội dung thứ nhất tập trung vào giáo dục ký ức lịch sử và lòng biết ơn
thông qua các hình thức kể chuyện, sân chơi kiến thức, hoạt động tương tác số và
tham quan không gian trưng bày hiện vật. Các chất liệu tưởng như xa với nhịp
sống sinh viên được chuyển thành những điểm chạm dễ bước vào: lắng nghe câu
chuyện, tham gia trả lời, tự mình hoàn thiện một hành động tương tác, hoặc trực
tiếp đứng trong một không gian lưu giữ ký ức tập thể. Cách tổ chức này giúp lịch
sử trở thành một trải nghiệm được cảm, chứ không chỉ là một phần nội dung
được nghe. Nhóm nội dung thứ hai tập trung vào trải nghiệm di sản và cảm thụ văn hóa. Ở nhóm này, sinh viên được tiếp cận các giá trị văn hóa qua âm nhạc, trang phục, thủ công, biểu diễn và các hình thức thẩm mỹ gần với đời sống hiện nay. Việc lựa
chọn cách tiếp cận bằng trải nghiệm giúp văn hóa không bị đóng khung trong vai
trò minh họa, mà xuất hiện như một thực hành sống động, có thể được tái hiện, thử sức, suy ngẫm và chuyển hóa thành biểu đạt cá nhân. Nhóm nội dung thứ ba tập trung vào chiều kích học thuật và năng lực hội
nhập. Mô hình không dừng lại ở việc khơi gợi cảm xúc về lịch sử - văn hóa, mà mở
rộng sang khả năng diễn đạt các giá trị ấy trong bối cảnh học thuật hiện đại, bao
gồm cả sân chơi sử dụng tiếng Anh, các tình huống tranh biện, trình bày, chia sẻ
và tư duy đối sánh. Điều này giúp sinh viên không chỉ yêu thích bản sắc dân tộc, mà còn có cơ hội rèn luyện năng lực đưa bản sắc ấy vào đối thoại rộng hơn. Nhóm nội dung thứ tư gắn với bản lĩnh công dân và nhận thức xã hội. Trên
nền tảng giáo dục truyền thống, mô hình lồng ghép các chủ đề có tính thời sự, pháp luật và trách nhiệm cộng đồng, từ đó tạo nên sự nối kết giữa quá khứ, hiện
tại và vai trò hành động của người trẻ. Cách triển khai này làm cho công tác giáo
dục truyền thống không bị tách rời khỏi những thách thức mà sinh viên đang trực
tiếp đối diện trong đời sống hôm nay. Song hành với nội dung chuyên môn là công tác truyền thông được triển
khai theo logic nhiều tầng gồm nội dung nền, nội dung đồng hành, nội dung tương
tác và nội dung recap. Truyền thông không chỉ nhằm mời gọi tham dự mà còn giữ
vai trò dẫn nhập nhận thức, giải thích giá trị của hoạt động, khơi gợi hứng thú, duy trì không khí tham gia và tạo hiệu ứng lan tỏa sau khi chương trình kết thúc. Chính vì vậy, mỗi hoạt động đều có vòng đời truyền thông riêng nhưng vẫn liên
thông với thông điệp chung của toàn dự án. Công tác tổ chức được thực hiện theo cơ chế phối hợp đa đầu mối nhưng có
một trục điều phối thống nhất. Ban chấp hành Liên Chi hội phân định rõ các nhóm
phụ trách nội dung, truyền thông, hậu cần, đối ngoại, sân khấu, triển lãm và tổng6
hợp minh chứng. Việc phân công như vậy vừa bảo đảm tính chuyên môn hóa, vừa
tạo cơ hội cho sinh viên rèn luyện năng lực làm việc tập thể, quản lý tiến độ và xử
lý tình huống trong bối cảnh dự án có nhiều hoạt động nối tiếp nhau trong thời
gian ngắn. 4.3. Giải pháp thực hiện:
Giải pháp thứ nhất là thiết kế dự án theo cấu trúc liên hoàn 04 giai đoạn và
nhiều điểm chạm nội dung khác nhau, bảo đảm mỗi hoạt động vừa có mục tiêu
riêng vừa phục vụ một trục giáo dục thống nhất. Cách thiết kế này tạo ra tính hệ
thống, giúp dự án có thể mở rộng mà vẫn giữ được bản sắc và logic phương pháp. Giải pháp thứ hai là kết hợp linh hoạt giữa hoạt động trực tiếp và hoạt động
trực tuyến. Những nội dung cần chiều sâu cảm xúc, trải nghiệm không gian hoặc
biểu đạt tập thể được ưu tiên tổ chức trực tiếp; những nội dung cần mở rộng độ
phủ, thu hút tương tác, duy trì nhịp quan tâm hoặc tạo điều kiện tham gia rộng
hơn được triển khai trên nền tảng số. Sự kết hợp này làm tăng hiệu quả sử dụng
nguồn lực và mở rộng biên độ tiếp cận của mô hình. Giải pháp thứ ba là chuyển truyền thông từ vai trò hỗ trợ sang vai trò đồng
kiến tạo giá trị giáo dục. Mỗi tuyến bài, mỗi hình thức recap, mỗi nội dung tương
tác đều được thiết kế để người đọc không chỉ biết có hoạt động, mà còn hiểu tại
sao hoạt động ấy cần thiết, có ý nghĩa gì và có thể tham gia bằng cách nào. Nhờ đó, truyền thông trở thành một phần của tiến trình học hỏi, chứ không chỉ là kênh
phát thông tin. Giải pháp thứ tư là huy động lực lượng sinh viên nòng cốt tham gia từ sớm, từ sâu và theo nhiều vị trí khác nhau. Sinh viên tham gia vào cả khâu hình thành ý
tưởng, biên tập nội dung, vận hành sự kiện, hướng dẫn trải nghiệm, làm việc với
khách mời, ghi nhận tư liệu và lan tỏa sau hoạt động. Cơ chế này vừa giảm độ phụ
thuộc vào một nhóm điều hành hẹp, vừa tạo nên môi trường rèn luyện thực chất
cho cán bộ Hội và lực lượng cộng tác viên. Giải pháp thứ năm là lồng ghép yếu tố thi đua, trải nghiệm, sáng tạo và biểu
đạt cá nhân vào trong cùng một mô hình. Người tham gia có thể chọn cách bước
vào dự án bằng nhiều hình thức khác nhau: thi, xem, nghe, làm, mặc, chế tác, trả
lời, thảo luận, biểu diễn hoặc cổ vũ. Chính sự đa dạng ấy làm tăng mức độ bao phủ
đối tượng và tránh tình trạng chỉ hấp dẫn một nhóm sinh viên có sẵn mối quan
tâm chuyên biệt. Giải pháp thứ sáu là tạo ra cơ chế lưu giữ kết quả bằng bộ minh chứng đa lớp
gồm ảnh, video, bài truyền thông, sản phẩm dự thi, số liệu, biểu đồ, không gian
trưng bày và báo cáo tổng hợp. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các mô hình
văn hóa - lịch sử, bởi giá trị của mô hình không chỉ nằm ở thời điểm diễn ra mà7
còn ở năng lực để lại dấu vết, phục vụ tổng kết, học tập kinh nghiệm và chuẩn hóa
phương thức tổ chức cho những lần sau. Giải pháp thứ bảy là mở rộng đối tượng tiếp cận theo hướng liên khoa, liên
ngành và có yếu tố liên trường. Dự án không đóng khung trong một nhóm sinh
viên có nền tảng văn hóa - xã hội, mà chủ động tiếp cận cả những nhóm sinh viên
vốn quen với môi trường kỹ thuật, ngoại ngữ, chương trình chất lượng cao hay
những người tham gia từ bên ngoài trường. Đây là điều kiện quan trọng để kiểm
chứng khả năng lan tỏa thực sự của mô hình. Giải pháp thứ tám là lượng hóa kết quả bằng các chỉ số dễ theo dõi, đồng thời
đặt những chỉ số đó trong bối cảnh mục tiêu giáo dục. Nhờ cách làm này, số lượng
bài dự thi, số lượt tham gia, số lượt theo dõi hay số đơn đăng ký không chỉ là con
số báo cáo, mà trở thành dữ liệu phản ánh sức hút, mức độ nhập cuộc và hiệu quả
tổ chức của toàn bộ mô hình. 5. Kết quả thực hiện trong thực tế:
Thống kê các số liệu:
Chỉ số nổi bật Kết quả
Số lượng chương trình thành phần được triển khai trong
toàn dự án
12
Số lượng bài dự thi dạng podcast kể chuyện lịch sử 65
Số lượng bài dự thi sân chơi kiến thức lịch sử 100
Số lượng bài tham gia hoạt động tương tác số về hòa bình 5.258
Số lượng thí sinh sân chơi học thuật tiếng Anh 70
Số lượng suất workshop trải nghiệm được lấp đầy trong 4
giờ mở đăng ký 44
Số lượng bài dự thi hoạt động trình diễn chất liệu văn hóa 60
Số lượng đơn đăng ký vòng loại sân chơi tài năng nghệ
thuật 302
Số lượng lượt thi thực tế ở sân chơi tài năng nghệ thuật 229
Số lượng đơn đăng ký cổ vũ cho đêm tổng kết và triển lãm 2.0008
Số lượng đăng ký đến từ đối tượng ngoài trường ở đêm
tổng kết 200
Mức tăng theo dõi trên fanpage khoảng 4.000
Mức tăng theo dõi ghi nhận trên các kênh đồng hành của
dự án
hơn 3.500
Biểu đồ tổng hợp một số chỉ số nổi bật trong quá trình triển khai mô hình.
Các số liệu ghi nhận cho thấy mô hình không chỉ dừng ở việc tổ chức nhiều
hoạt động, mà đã tạo được độ phủ truyền thông lớn, khả năng huy động người
tham gia ổn định và hiệu ứng cộng hưởng rõ rệt giữa các chương trình thành
phần. Nếu đặt các chỉ số cạnh nhau, có thể thấy mô hình đã tạo được cả chiều rộng
tiếp cận lẫn chiều sâu nhập cuộc: có hoạt động thu hút hàng nghìn lượt tham gia
trên nền tảng số, có hoạt động tạo sức hút mạnh ở quy mô đăng ký, có hoạt động
ghi nhận chất lượng tham gia qua hình thức dự thi, và cũng có hoạt động thể hiện
rõ giá trị trải nghiệm qua tốc độ lấp đầy chỉ tiêu workshop. Đáng chú ý, các hoạt động có chiều sâu nội dung như chuỗi podcast kể
chuyện lịch sử, sân chơi kiến thức gắn với chất liệu đời sống kháng chiến, hoạt
động tương tác số về hòa bình, sân chơi học thuật bằng tiếng Anh, workshop trải9
nghiệm, nội dung trình diễn nghệ thuật gắn với chất liệu văn hóa và đêm tổng kết
có triển lãm đều đạt được những chỉ số tích cực. Điều này phản ánh một thực tế
quan trọng: khi lịch sử - văn hóa được triển khai bằng cấu trúc phù hợp, bằng
ngôn ngữ tổ chức gần với sinh viên và bằng nhiều hình thức nhập cuộc khác nhau, người trẻ hoàn toàn sẵn sàng dành sự quan tâm nghiêm túc cho các chủ đề vốn
thường bị xem là khó tiếp cận. Khía cạnh hiệu quả của mô hình còn thể hiện ở khả năng tạo ra sự chuyển
hóa từ quan tâm sang tham gia thực tế. 302 đơn đăng ký ở vòng loại của sân chơi
tài năng nghệ thuật và 229 lượt thi thực tế cho thấy sức hút không dừng ở mức
theo dõi, mà đã chuyển thành hành động tham dự cụ thể. Việc workshop trải
nghiệm được lấp đầy 35 suất chỉ trong 4 giờ mở đăng ký cho thấy hình thức học
qua trải nghiệm trực tiếp có khả năng tạo lực hút mạnh nếu được tổ chức đúng
cách. 758 đơn đăng ký cổ vũ cho đêm tổng kết, trong đó có 45 đăng ký đến từ
ngoài trường, cho thấy mô hình đã hình thành được sức kéo cộng đồng vượt ra
ngoài phạm vi nội bộ. Ở bình diện truyền thông, mức tăng theo dõi khoảng 2.000 trên fanpage
Đoàn - Hội và hơn 3.500 trên các kênh đồng hành cho thấy dự án không chỉ phục
vụ một nhóm đã quan tâm sẵn, mà còn có khả năng thu hút công chúng mới. Hiệu
quả này đặc biệt quan trọng trong các mô hình giáo dục lịch sử - văn hóa, bởi
không ít hoạt động có giá trị chuyên môn cao vẫn gặp rào cản trong độ phủ. Kinh
nghiệm từ mô hình cho thấy muốn lan tỏa bền vững cần đi kèm một chiến lược
truyền thông có định vị giá trị rõ ràng, biết cách dẫn nhập nhận thức trước khi
mời gọi tham gia và biết cách kéo dài dư âm sau hoạt động. 6. Ý nghĩa:
6.1. Tính hiệu quả, thiết thực:
Mô hình thể hiện tính hiệu quả và thiết thực ở chỗ đưa lịch sử - văn hóa trở
lại với sinh viên bằng những hình thức mà người học có thể thực sự bước vào:
lắng nghe, dự thi, tham quan, chế tác, trình diễn, đối thoại, suy ngẫm và lan tỏa. Thay vì cung cấp tri thức theo một chiều, mô hình tạo ra các tình huống trải
nghiệm cụ thể để người tham gia tự hình thành cảm xúc, nhận thức và trách
nhiệm của mình. Chính sự dịch chuyển từ nghe biết sang trực tiếp nhập cuộc đã
làm tăng đáng kể hiệu quả giáo dục của toàn bộ dự án. Tính thiết thực còn thể hiện ở việc mô hình không xây dựng một không gian
giáo dục tách rời đời sống sinh viên, mà chủ động sử dụng những hình thức gần
với nhịp sống đại học như nội dung số, cuộc thi, workshop, hoạt động trải nghiệm, sân chơi học thuật và đêm tổng kết có tính trình diễn cộng đồng. Nhờ đó, mô hình
vừa giữ được chiều sâu giá trị, vừa giảm khoảng cách tiếp cận; vừa đáp ứng yêu10
cầu giáo dục truyền thống, vừa phù hợp với cách người trẻ hiện nay tiếp nhận và
tham gia vào các hoạt động tập thể. 6.2. Tính tiêu biểu, điển hình:
Mô hình là một ví dụ tiêu biểu cho cách tổ chức dự án lịch sử - văn hóa theo
hướng liên ngành, tích hợp và lấy sinh viên làm trung tâm. Giá trị điển hình của
mô hình không chỉ nằm ở việc có nhiều hoạt động thành phần, mà ở khả năng đặt
tất cả các hoạt động ấy trong một chỉnh thể phương pháp rõ ràng. Từ giai đoạn
khơi mở nhận thức cho đến giai đoạn tổng kết - triển lãm, toàn bộ tiến trình đều
được vận hành như một hành trình giáo dục có cấu trúc, có thông điệp và có khả
năng đo lường kết quả. Ở góc độ tổ chức Hội, mô hình cho thấy tổ chức Hội Sinh viên hoàn toàn có
thể đóng vai trò chủ thể kiến tạo, chứ không chỉ dừng ở việc phối hợp hoặc truyền
thông cho một chương trình sẵn có. Việc chủ động xây dựng logic nội dung, điều
phối nguồn lực, tổ chức lực lượng sinh viên, phát triển hệ thống minh chứng và
duy trì mạch truyền thông xuyên suốt là những đặc điểm làm cho mô hình trở
thành một điển hình có thể tham khảo trong công tác Hội và phong trào sinh viên. 6.3. Tính lan tỏa, sâu rộng:
Tác động của mô hình không chỉ thể hiện ở số lượng người tham gia trực
tiếp mà còn ở độ phủ truyền thông, khả năng thu hút người theo dõi mới, sự hiện
diện của đối tượng liên khoa, liên ngành và yếu tố mở ra bên ngoài trường. Từ
những bài dự thi theo hình thức sáng tạo đến đêm tổng kết có số lượng đăng ký cổ
vũ cao, mô hình đã tạo được hiệu ứng lan tỏa theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu:
nhiều người biết tới hơn, nhiều nhóm sinh viên cùng tham gia hơn và nhiều nội
dung được tiếp tục nhắc lại sau khi hoạt động khép lại. Tính lan tỏa sâu rộng còn đến từ việc mô hình không phụ thuộc vào một loại
hình duy nhất. Một người có thể tiếp cận dự án qua podcast, người khác qua sân
chơi kiến thức, người khác qua không gian bảo tàng, workshop, sân chơi học thuật
hoặc đêm trình diễn - triển lãm. Càng nhiều cửa vào như vậy, khả năng mở rộng
biên độ tiếp cận càng lớn. Đây là một lợi thế quan trọng, bởi nó giúp mô hình vượt
qua giới hạn của các hoạt động đơn tuyến vốn chỉ thu hút mạnh một nhóm đối
tượng hẹp. 6.4. Tính mới, sáng tạo:
Điểm mới của mô hình nằm ở việc tổ chức giáo dục lịch sử - văn hóa theo
logic hệ sinh thái giải pháp, trong đó mỗi hoạt động vừa là một sự kiện độc lập, vừa là một mắt xích nhận thức trong một tổng thể rộng hơn. Sự sáng tạo không
chỉ nằm ở hình thức thể hiện, mà còn nằm ở cấp độ phương pháp: biết cách phân